Thái độ của người xưa đối với hôn nhân
Con người ngày nay đã coi ly hôn là chuyện bình thường. Họ đã đánh mất quan niệm văn hóa truyền thống, không còn hiểu rõ ý nghĩa và nền tảng của hôn nhân. Họ xem hôn nhân chỉ là sự kết hợp của cảm xúc và dục vọng: hôm nay thích thì cưới, mai không vừa ý thì ly hôn. Những yếu tố như bao dung, chịu đựng, trách nhiệm với con cái hay ảnh hưởng đến cha mẹ hai bên gần như không được đặt ra.
Muốn hiểu rõ mức độ đạo đức của xã hội hiện nay, chỉ cần so sánh với thái độ của người xưa đối với hôn nhân là đủ thấy sự khác biệt lớn đến mức nào.
Người xưa không nói “tình yêu”
“Tình yêu” là khái niệm hiện đại, nhấn mạnh cái “tôi”, cá nhân và dục vọng. Còn người xưa coi trọng ân nghĩa và duyên phận hơn.
Họ tin hôn nhân là “trời se duyên”, là duyên phận đã định từ kiếp trước. Các câu nói cổ như “Trăm năm tu mới cùng thuyền qua, ngàn năm tu mới chung gối nằm”, “Hữu duyên thiên lý năng tương hội”… đều nhấn mạnh sự an bài của trời đất.
Ngoài ra, xã hội cổ đại còn có hệ thống lễ pháp nghiêm ngặt và chuẩn mực đạo đức cao để bảo vệ hôn nhân. Bất kỳ quan hệ nam nữ nào vi phạm lễ giáo đều bị xã hội lên án và pháp luật trừng trị.
Hôn nhân là đại sự cả đời, không phải trò đùa. Từ thời nhà Chu đã có Lục lễ (Nạp thái, Vấn danh, Nạp cát, Nạp trưng, Thỉnh kỳ, Thân nghênh) làm chuẩn mực hôn nhân trong suốt hàng nghìn năm. Khi cưới, người xưa phải:
Bái Thiên Địa – Trời đất làm chứng.
Bái song thân – Cha mẹ làm chứng.
Phu thê giao bái – Hai vợ chồng tôn trọng lẫn nhau.
Một cuộc hôn nhân được trời đất, cha mẹ và họ hàng chứng kiến, nên vợ chồng phải nương tựa nhau, chung sống đến bạc đầu.

Những tấm gương vợ chồng trong hôn nhân xưa
- Yến Anh không bỏ vợ xấu
Thời Xuân Thu, Yến Anh, thừa tướng nước Tề nổi tiếng hiền tài có một người vợ già và xấu. Tề Cảnh Công rất quý trọng tài năng của ông, muốn gả con gái xinh đẹp cho ông.
Trong một bữa tiệc tại nhà Yến Anh, Cảnh Công thấy vợ ông bận rộn chiêu đãi khách, liền hỏi: “Đó là vợ ông sao?” Yến Anh trả lời: “Vâng, chính là vợ thần.”
Cảnh Công thở dài: “Ông tuổi đã cao, vợ lại già và xấu. Ta có một người con gái trẻ trung xinh đẹp, cho phép ta gả con cho ông được không?”
Yến Anh lập tức buông đũa, đứng dậy cung kính thưa:
“Vợ thần tuy tuổi cao và dung mạo kém, nhưng chúng thần đã sống bên nhau nhiều năm. Phụ nữ khi trẻ lấy chồng là trao cả đời cho người ấy. Vợ tôi đã trao thân cho tôi từ khi còn trẻ, không màng tôi giàu hay nghèo, sang hay hèn. Nay Đại vương muốn gả con gái cho thần là vinh hạnh lớn, nhưng làm nam nhi đứng giữa trời đất, tôi đã nhận lời trao gửi của vợ, làm sao có thể phụ lòng bà?”
Tề Cảnh Công thấy ông kiên quyết nên đành thôi.
- Khước Khuyết – vợ chồng tương kính như tân
Thời Xuân Thu, Khước Khuyết, thượng đại phu nước Tấn được người đời khen ngợi vì vợ chồng sống với nhau “tương kính như tân”. Tên làng “Như Tân Hương” (Hà Tân, Sơn Tây) ngày nay cũng xuất phát từ câu chuyện này.
Khi bị giáng chức về quê cày ruộng, có vị quan nước Tấn đi qua thấy vợ ông mang cơm ra ruộng, hai tay dâng cho chồng với thái độ cung kính như tiếp khách quý. Khước Khuyết cũng tiếp nhận một cách trịnh trọng. Vị quan cảm động, về tâu với Tấn Văn Công và khuyên nên trọng dụng ông. Sau này Khước Khuyết lập nhiều công lớn.
Kết luận
So với người xưa, nam nữ thời nay đã mất đi rất nhiều phẩm chất truyền thống. Nam giới thiếu cương khí chính đại, nữ giới thiếu sự dịu dàng hiền thục, lại còn tranh đấu với nam giới để “đỡ nửa bầu trời”.
Người xưa tin vào duyên phận và ân nghĩa. Người nay cũng có duyên phận, chỉ là họ không còn tin nữa.
Mỹ Mỹ biên tập
Nguồn Tân sinh
Theo vandieuhay
