Vì sao bình tịnh thủy của Quán Âm Bồ Tát lại thần kỳ đến vậy?
Tây Du Ký không chỉ là một tác phẩm phiêu lưu huyền thoại mà còn là hành trình đầy biểu tượng tâm linh, nơi những pháp khí và thần vật đều mang ý nghĩa sâu xa. Trong số đó, chiếc bình tịnh thủy nhỏ bé trong tay Quán Âm Bồ Tát lại trở thành một trong những pháp bảo quyền năng bậc nhất.
Từ việc cải tử hoàn sinh, dập tắt tam muội chân hỏa cho đến hàng phục yêu ma quỷ quái, bình tịnh thủy không đơn thuần là một chiếc bình, mà là hiện thân của từ bi, trí tuệ và sức mạnh cảnh giới tối cao. Vậy điều gì làm nên sự thần kỳ của chiếc bình tưởng chừng mỏng manh này? Bí ẩn nào ẩn sau vẻ giản dị đó?
Dung lượng của bình tịnh thủy lớn tới mức nào?
Trong các tác phẩm hội họa bình thường, mọi người thường chỉ thấy một chiếc bình nhỏ nhắn, xinh xắn chỉ cắm được một cành dương liễu, tuy nhiên dung lượng của nó lớn tới đâu, mọi người đều không biết. Trong “Tây Du Ký”, Ngộ Không từng tận mắt chứng kiến uy lực của chiếc bình, lợi hại đến mức Tề Thiên Đại Thánh còn kinh ngạc một phen.
Khi Hồng Hài Nhi, con trai của Ngưu Ma Vương bắt được Đường Tăng, Tôn Ngộ Không muốn đến cứu nhưng bị lửa tam muội làm bị thương. Ngọn lửa này đến cả Long Vương làm mưa cũng không dập tắt được. Ngộ Không lại một nữa đến cầu xin Bồ Tát trợ giúp.
Bồ Tát thả Tịnh Bình xuống biển, trong nháy mắt được một con rùa già cõng lên khỏi mặt nước, Bồ Tát lại lệnh cho Ngộ Không đi lấy chiếc bình. Kỳ lạ thay, dù Ngộ Không dồn hết sức bình sinh cũng không thể nhấc nổi chiếc bình lên, như thể chuồn chuồn lay cột đá, không chút mảy may động đậy.
Trước kia, khi Ngộ Không xuống Đông Hải Long Cung tìm kiếm vũ khí phù hợp với mình, thấy cây Định Hải Thần Châm nặng 13.500 cân, nhấc một cái là được ngay, tuy nhiên tại sao chiếc bình tịnh thủy nhỏ như vậy mà Ngộ Không lại không tài nào nhấc lên nổi?
Hoá ra, khi Bồ Tát thả Tịnh Bình xuống biển, chỉ trong chốc lát, nước của ba sông năm hồ, tám biển bốn ngòi đều được mượn chảy vào chiếc bình. Nhờ đó mới có thể dập tắt ngọn lửa tam muội chân hỏa và cứu được Đường Tăng.
Truyện Tây Du Ký còn kể rằng, Thầy trò Đường Tăng trên hành trình thỉnh kinh đi tới Ngũ Trang Quán Vạn Thọ Sơn. Nơi đây có một cây nhân sâm, còn được gọi là Thảo Hoàn Đơn, là cây quý của Trấn Nguyên Đại Tiên.
“Trong quán có một thứ báu lạ thường, từ khi vũ trụ còn hỗn độn mới chia, trời đất còn mờ mịt chưa phân, đã có thứ cây linh thiêng này. Trong tứ đại bộ châu của thiên hạ chỉ có Quán Ngũ Trang thuộc Tây Ngưu Hạ Châu là có cây này thôi, tên gọi là “nhân sâm quả”. Giống cây này ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, lại ba nghìn năm nữa mới chín.
Tính ra phải một vạn năm mới được ăn. Và trong một vạn năm ấy chỉ kết được ba mươi quả. Hình dáng quả này tựa đứa bé mới sinh chưa đầy ba ngày, tứ chi hoàn toàn, ngũ quan đủ cả. Ai có duyên được ngửi quả này một lần, thì sống lâu ba trăm sáu mươi tuổi; ăn một quả, sống mãi bốn vạn bảy nghìn năm”. Một cây quý, thần kỳ như vậy đã bị Ngộ Không trong lúc tức giận mà đánh đổ.
Khi hay tin cây quý bị đánh đổ, Trấn Nguyên Đại Tiên đã vô cùng tức giận, liền sai người bắt giữ bốn thầy trò Đường Tăng, nói rằng nếu không hoàn trả nguyên vẹn cây nhân sâm thì kiên quyết không buông tha. Trước cảnh sư phụ và các huynh đệ gặp nạn, Ngộ Không đã đến Tam Đảo Thập Châu để tìm thuốc thần cứu sống cây tiên.
Nhưng loài cây này là linh căn sinh ra từ khi khai thiên tịch địa, Trấn Nguyên Đại Tiên lại là ông tổ của dòng địa tiên, ngay cả Bồ Tát cũng phải kính ông vài phần. Tam Đảo Thập Châu tuy là nơi quy tụ nhiều vị thần tiên nhưng họ đều không có đạo hạnh cao bằng Trấn Nguyên Đại Tiên, thế nên không ai có thể cứu được linh căn đã bị phá đứt.
Ngộ Không lặn lội khắp chân trời góc bể nhưng vẫn không tìm ra phương cách cải tử hoàn sinh cây quý, cuối cùng đành phải đến cầu cứu Quan Âm Bồ Tát. Sau đó, Bồ Tát nói nước cam lồ trong Tịnh Bình có thể phục sinh cây nhân sâm.

Bình tịnh thủy có thể coi là pháp khí lợi hại trong Tam giới
Quan Âm Bồ Tát thuộc về Phật gia, còn Trấn Nguyên Tử là bậc Chân Nhân thuộc về Đạo gia. Phật và Đạo là hai trường phái tu luyện khác nhau, hai thể hệ hoàn toàn khác nhau: Đạo gia chú trọng thanh tu, tu luyện trong tĩnh, thường là tu đơn độc, hướng đến giải thoát tự thân. Còn Phật gia chú trọng tu Thiện, vì tu Thiện nên có thể xuất tâm từ bi, không chỉ cứu độ bản thân mà còn phát tâm Bồ Đề phổ độ chúng sinh.
Các kinh điển Phật giáo thường nhắc đến “Tây Phương Tam Thánh”, đó là 3 vị gồm Phật A Di Đà, Đại Thế Chí Bồ Tát, và Quan Âm Bồ Tát. Trong đó, Bồ Tát Đại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Ðức Phật A Di Ðà, tượng trưng cho Trí Huệ. Bồ Tát Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy đứng bên tay trái, tượng trưng cho lòng Từ Bi của Đức Phật.
Bởi vậy, nước Cam Lộ của Bồ Tát là sinh xuất từ tâm Từ Bi, nên hiển nhiên sẽ khác với tiên đan của các vị tiên chốn Bồng Lai, cũng khác với “cửu chuyển Thái Ất hoàn đơn” của Đế Quân, vốn là linh dược của những người tu Đạo.
Nói về nguồn gốc của nước Cam Lộ, có một truyền thuyết kể rằng: Khi Bồ Tát vẫn đang tu luyện giữa thế gian, Ngài đã phải trải qua biết bao nhiêu ma nạn, đã nếm đủ mọi cái khổ trong những cái khổ của người đời. Một ngày, Phật Tổ hiển linh trao cho Ngài chiếc bình Bạch Ngọc Dương Chi, dặn rằng: Con cần tu tới khi trong bình nở hoa, gọi là Cam Lộ Dương Chi, lúc đó mới thực sự thành chính quả, pháp lực vô biên.
Nước Cam Lộ ấy phải được đựng trong chiếc bình thanh tịnh và phải dùng cành dương liễu thì mới có khả năng rưới mát chúng sinh. Cành dương liễu cũng phải được cắm trong tịnh bình, nhúng vào nước Cam Lộ thanh khiết mới có thể phát huy pháp lực vô biên. Nghĩa là, ở đây phải có sự kết hợp của ba yếu tố:
Nước Cam Lộ: là thứ nước thánh tinh khiết, rất trong, mát, và thơm ngọt, do hứng ngoài sương mà được tượng trưng cho lòng từ bi, nghĩa là “Thiện”.
Cành dương liễu: là loại cây yếu mềm lại dẻo dai, uyển chuyển lay theo chiều gió, gió mạnh cũng không gãy, có thể tùy duyên mà không chịu khuất phục, có thể thuận theo ngoại cảnh mà không bị cảnh chi phối. Cành dương liễu mềm dẻo mà lại kiên cường, tượng trưng cho đức nhẫn nhục và chịu đựng, nghĩa là “Nhẫn”.
Bình tịnh thủy: là chiếc bình hoàn toàn thanh tịnh chỉ có ở nơi Phật giới, cảnh giới của người chân tu – phản bổn quy chân – phải đạt đến độ thánh khiết như bình ngọc thì mới có thể được dùng để đựng nước Cam Lộ. Khi cứu cây nhân sâm, Bồ Tát cũng nói rằng: “Nước này những vật thuộc ngũ hành không được phạm vào, mà phải lấy bầu ngọc múc nước”. Như vậy, bình tịnh thủy là tượng trưng của “Chân”.
Ví như có Thiện tâm, có mong muốn phổ độ chúng sinh nhưng lại không thể nhẫn nhục, không thể chịu khổ thì làm sao cứu độ được con người? Cũng ví như có đức Nhẫn cự đại, có ý chí kiên cường nhưng bản thân không phát tâm từ bi thì làm sao bước ra độ nhân được? Và ví như đã đầy đủ cả Thiện, cả Nhẫn, nhưng lại không mang tâm thuần tịnh, tâm ý không đủ thuần khiết thì việc cứu người có làm mà chẳng nên công cán gì…
Vậy mới nói, thứ “linh dược” thần thánh nhất là thứ linh dược sinh xuất ra khi hội tụ đầy đủ cả Chân, Thiện và Nhẫn. Chỉ có thiện tâm lớn lao và lòng từ bi cự đại, được gìn giữ trong đức tính chân thật, kinh qua đức nhẫn nhịn trong quá trình tu luyện gian nan, thì mới có thể làm nên những kỳ tích thần kỳ.
Một chiếc quạt nát khi ở trong tay Tế Công, lại biến thành vũ khí lợi hại, chỉ cần huơ một cái thì có thể ngăn chặn kẻ ác làm điều xấu. Một cành liễu bình thường, khi trong tay Bồ Tát, chỉ cần phất nhẹ một cái, liền có thể chữa bách bệnh, xua đuổi nghiệp long. Những vật dụng bình thường lại khởi tác dụng phi thường như vậy là do người sử dụng có đạo hạnh vô vùng cao thâm.
Bởi vì, ở cảnh giới của Bồ Tát, dù ngài dùng pháp khí nào thì pháp khí ấy cũng sẽ được trang bị pháp lực ở cảnh giới Bồ Tát. Tương tự như thế, La Hán dùng vật dụng gì thì đều khởi tác dụng ở tầng thứ La Hán. Còn ở cảnh giới của Phật, dù Phật Đà chỉ dùng một chiếc bát xin cơm tầm thường, nhưng những gì thể hiện ra chính là pháp lực của cảnh giới Phật. Đây là lý do tại sao pháp khí của tiên gia lại hết sức thần kỳ và lợi hại như vậy.
Chiếc bình tịnh thủy của Quán Âm Bồ Tát không đơn thuần là pháp khí, mà là biểu tượng của đạo lực, từ bi và cảnh giới siêu phàm. Trong thế giới thần thoại Tây Du Ký, pháp lực không nằm ở hình thức hay chất liệu, mà ở tâm người sử dụng. Một cành liễu mỏng, một giọt cam lồ khi nằm trong tay một bậc giác ngộ lại có thể khuấy động trời đất, hóa giải oan nghiệp, cứu vớt sinh linh.
Ẩn sau những câu chuyện kỳ ảo là triết lý sâu sắc về tâm linh: pháp khí càng giản đơn, đạo hạnh càng cao, hiệu dụng càng vô lượng. Và đó chính là điều khiến chiếc bình tịnh thủy mãi là biểu tượng kỳ vĩ trong thế giới thần thoại Á Đông.
Mỹ Mỹ biên tập
Nguồn TCT
Xem thêm
Theo vandieuhay

