Câu Chuyện Cuộc ĐờiĐời Sống

Khám Phá Nguồn Gốc Tết Nguyên Đán: Buổi Sáng Đầu Tiên Của Năm Mới

Khám Phá Nguồn Gốc Tết Nguyên Đán: Buổi Sáng Đầu Tiên Của Năm Mới

Bạn có bao giờ tự hỏi: Vì sao ngày đầu tiên của năm mới lại được gọi là Nguyên Đán? Liệu đây có phải là một lễ hội du nhập từ phương Tây, hay là một truyền thống cổ xưa của dân tộc? Thực ra, Nguyên Đán đã tồn tại trong văn hóa Á Đông từ hàng nghìn năm trước, hoàn toàn là một lễ tiết truyền thống thuần túy, không liên quan đến các nền văn hóa phương Tây.

Hãy bắt đầu từ chính tên gọi “Nguyên Đán”. Từ này đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử chữ Hán. 

Trước hết, chữ 元 (Nguyên). Trong giáp cốt văn, chữ Nguyên được cấu tạo với phần dưới là hình người (人), phía trên có hai nét ngang giống chữ “nhị” (二), thực chất là cách viết cổ của “thượng” (上). Phần cao nhất trên cơ thể con người chính là đầu, vì vậy nghĩa gốc của chữ Nguyên là “đầu”. Do đầu nằm ở vị trí cao nhất và có vai trò quan trọng bậc nhất, chữ này dần mở rộng nghĩa thành “đứng đầu”, “thứ nhất”, “khởi đầu”.

Chúng ta vẫn thấy điều này trong đời sống hiện đại: Người lãnh đạo cao nhất của quốc gia gọi là Nguyên thủ, người đỗ đầu kỳ thi đình gọi là Trạng nguyên, tổng chỉ huy quân đội gọi là Nguyên soái. 

Trong Thuyết Văn Giải Tự từ điển chữ Hán cổ nhất có ghi: “Nguyên, nghĩa là khởi đầu”. Vì vậy, tháng đầu tiên của năm được gọi là Nguyên Nguyệt (hay Chính Nguyệt – tháng Giêng), đêm rằm đầu tiên gọi là Nguyên Tiêu.

Tiếp theo là chữ 旦 (Đán). Chữ này là một hình ảnh hội ý tuyệt đẹp: Phần trên là 日 (mặt trời), phần dưới là một nét ngang biểu thị mặt đất hoặc đường chân trời. Mặt trời từ từ nhô lên khỏi mặt đất, đó chính là bình minh, rạng đông. 

Nghĩa gốc của Đán là “trời sáng tinh mơ”, “buổi sớm mai”. Chúng ta vẫn dùng cụm “thông tiêu đạt đán” để chỉ việc thức suốt đêm đến sáng.

Ghép Nguyên và Đán lại, ta có Nguyên Đán: buổi sáng đầu tiên của năm mới. Nó mang ý nghĩa sâu sắc: Tạm biệt bóng tối năm cũ, đón chào ánh sáng rực rỡ của năm mới, biểu tượng cho sự khởi đầu tươi sáng, hy vọng và tái sinh.

77b437eac536c6342a8565be192a1c5a
Nghĩa gốc của Đán là “trời sáng tinh mơ”, “buổi sớm mai”. Ảnh minh họa: Pinterest

Trong cổ đại, Nguyên Đán còn có nhiều tên gọi khác như Nguyên Thần, Nguyên Sóc, Tuế Thủ, Nguyên Nhật… Nhà thơ Vương An Thạch thời Bắc Tống đã khắc họa không khí năm mới qua bài thơ nổi tiếng “Nguyên Nhật”:

Tiếng pháo vang vang tuổi cũ qua,
Gió xuân mang ấm rượu Đồ Tô. 
Ngàn nhà vạn hộ nắng rạng ngời, 
Đào mới thay hết bùa cũ treo.

Bài thơ miêu tả tiếng pháo xua tan năm cũ, gió xuân ấm áp, muôn nhà đón nắng mới và thay bùa đào, phong tục cổ xưa để xua tà khí, đón phúc lành.

Khái niệm Nguyên Đán đã xuất hiện từ rất sớm, ngay thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Tuy nhiên, do lịch pháp thay đổi qua các triều đại, ngày Nguyên Đán cũng không cố định:

– Thời nhà Thương: Tháng 12 âm lịch là tháng Giêng → Nguyên Đán vào mùng 1 tháng 12.
– Thời nhà Chu: Tháng 11 âm lịch là tháng Giêng → Nguyên Đán vào mùng 1 tháng 11.
– Thời nhà Tần: Tháng 10 âm lịch là tháng Giêng → Nguyên Đán vào mùng 1 tháng 10.
– Đến thời Hán Vũ Đế: Quy định tháng Giêng là tháng đầu mùa xuân, Nguyên Đán cố định vào mùng 1 tháng Giêng âm lịch – như chúng ta ngày nay.

Lịch này được duy trì đến cuối nhà Thanh. Năm 1912, khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, để hội nhập quốc tế, adot dương lịch Gregorian: Ngày 1/1 dương lịch trở thành “Nguyên Đán” (Tết Tây), còn Tết âm lịch được gọi là “Xuân Tiết”. Đến năm 1949, sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, khái niệm được phân biệt rõ ràng: Ngày 1/1 dương lịch là Nguyên Đán, Tết âm lịch là Xuân Tiết (với kỳ nghỉ dài hơn).

Tại Việt Nam, chúng ta vẫn giữ nguyên tên gọi truyền thống: Tết âm lịch là “Tết Nguyên Đán”, ngày lễ lớn nhất trong năm, với bao phong tục đẹp đẽ: dọn nhà, gói bánh chưng, chúc tụng, lì xì…

Năm 2026 đã đến gần, xin chúc mọi người: Nguyện năm mới mang đến bình an, thịnh vượng và những khởi đầu tươi đẹp như bình minh đầu tiên của năm! 

Tú Uyên biên tập

Xem thêm

Theo vandieuhay

Gửi phản hồi