Câu Chuyện Cuộc Đời

Cách đặt tên cho các vị thuốc Trung y (phần 2)

Việc đặt tên cho các vị thuốc Trung y không theo phân loại của ngành thực vật học mà dựa trên nội hàm phong phú và vô cùng thâm sâu của văn hóa Trung Quốc cổ đại để đặt tên.

Sơn Hải Kinh là một cuốn sách chú giải về địa lý Trung Quốc được biên soạn dựa theo các truyền thuyết thời thượng cổ, trong đó có ghi chép phong phú về các loại sản vật, bao gồm cả ghi chép về 59 loại thuốc thực vật, 83 loại thuốc động vật, 4 loại thuốc khoáng vật, tổng cộng là 146 loại.

=> Tiếp theo phần 1

Đặt tên theo màu sắc

Màu sắc của không ít loại thuốc Trung y đã trở thành tiêu chí rõ ràng để nhận diện loại thuốc đó và cũng là cơ sở để đặt tên cho thuốc.

Ví dụ, về màu đỏ thì có các vị thuốc như hồng hoa, xích thược, chu sa, huyết kiệt, đan sâm v.v..; màu vàng thì có đại hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, hoàng kỳ, hoàng bá v.v..; màu trắng thì có bạch chỉ, bạch cập, bạch vi, bạch truật, bạch hoa xà thiệt thảo v.v..; về màu xanh thì có thanh bì, thanh đại, thanh hao v.v..; về màu đen thì có huyền sâm, táo đen v.v…

Ngoài ra còn có giả thạch (đất đỏ), tử thảo, tử hoa địa đinh v.v…

Đặt tên theo mùi vị

Các loại thuốc Trung y có các vị ngọt, chua, đắng, cay, mặn khác nhau nên người ta thường đặt tên thuốc dựa theo mùi hoặc vị đặc trưng của chúng.

Về mùi thơm nồng thì có mộc hương, hoắc hương, hồi hương, đinh hương, xạ hương, trầm hương, tô hợp hương, an tức hương, hương nhu, kê thỉ đằng (mùi giống phân gà); mùi hơi thối một chút thì có xú ngô đồng, xú mẫu đan v.v..

Vị ngọt thì có cam thảo, di đường; vị đắng thì có khổ luyện tử, khổ sâm; vị chua thì có toan táo nhân; vị cay thì có tế tân, lạt gia, ngũ vị tử v.v..; vị mặn thì có hàm phiên tân thạch.

7 3
Cam thảo. Ảnh internet.

Đặt tên theo bộ phận dùng làm thuốc

Ví dụ như: ma hoàng căn (rễ cây ma hoàng), cát căn (củ sắn dây), sơn đậu căn (rễ cây sơn đậu), bạch mao căn (rễ cỏ tranh), hạnh nhân (hạt quả hạnh nhân), đào nhân (hạt quả đào), nguyệt quế hoa (hoa nguyệt quế), kê quan hoa (hoa mào gà), kim ngân hoa (hoa kim ngân, hoa nhẫn đông), dương kim hoa (hoa cà độc dược), tang chi (cành cây dâu tằm), chi tử (quả dành dành) v.v…

Đặt tên theo công hiệu

Một số vị thuốc khác nhau có tác dụng chữa bệnh độc đáo và rõ rệt đối với một số loại bệnh khác nhau nên người ta thường đặt tên thuốc dựa theo công hiệu của chúng.

Ví dụ, ích mẫu và dụ kỳ có thể chữa các bệnh sản phụ khoa; tục đoạn, cốt toái bổ có thể giúp bổ thận, mạnh gân cốt, giúp xương nhanh lành thương; thân cân thảo giúp trừ bệnh phong thấp, thư cân hoạt lạc; phòng phong giúp trừ chứng phong tà, là vị thuốc chủ yếu trong điều trị các bệnh do phong hàn, cảm mạo.

Ngoài ra còn có các vị thuốc khác như viễn chí (giúp ích trí, trị chứng hay quên, giảm trí nhớ), trạch tả (thắng thấp lợi thủy), nhục thung dung (giúp tăng cường sinh lý nam, tăng khả năng thụ thai ở nữ, chuyện nhục dục sẽ được thung dung hay thong dong, không còn phiền muộn nữa), thiên niên kiện (giúp trừ phong thấp, mạnh gân cốt, thiên niên kiện nghĩa là khoẻ mạnh ngàn năm), đại phong tử (chữa bệnh phong) v.v…

Đặt tên theo phiên âm

Có một số loại thuốc trong nước Trung Quốc không sản xuất được mà phải nhập khẩu từ nước ngoài nên tên thuốc thường được đặt theo phiên âm, như cây tất bạt nhập từ Ấn Độ là một ví dụ.

Trong bộ sách “Dậu dương tạp trở” của tác giả Đoạn Thành Thức thời Đường có chép rằng: “Loại thuốc này ở Phất Lâm quốc được gọi là a li kha tha, xuất sang nước Ma Gia Thi Quốc nó được gọi là tất bạt lê, khi nhập vào Trung Quốc thì gọi tắt là tất bạt (cây tiêu lốt)”. Ngoài ra còn có a ngùy, tất trừng già (cây màng tang)… đều là được đặt tên theo phiên âm. Còn có mạn đà la, kha tử v.v…

Đặt tên dựa theo truyền thuyết và Thần thoại

Thông thường tên của mỗi vị thuốc Trung y sẽ gắn liền với một câu chuyện thần thoại hay và cảm động. Nhiều nhất là những câu chuyện liên quan đến thuật trường sinh bất lão, uống thuốc thành tiên. Truyền thuyết về đỗ trọng cũng là một trong số đó.

Sách “Bản thảo cương mục” mô tả rằng: “Vào thời cổ có một người tên là Đỗ Trọng, thường dùng một loài cây thân gỗ làm thuốc uống, về sau đã đắc đạo thành tiên bay đi” (nguyên văn: Đỗ Trọng cũng là tên người, người xưa mượn tích Đỗ Trọng uống thuốc đắc đạo thành tiên mà đặt tên cho cây thuốc). Người đời sau dần gọi cây thuốc này là “tư tiên”, “tư trọng” hay đơn giản là đỗ trọng.

Vào thời cổ đại những chuyện như vậy có rất nhiều, hầu hết đều viết rằng một người nào đó đã dùng một loại thuốc nào đó mà đắc đạo thành tiên, ví dụ như hoàng tinh, địa hoàng, phục linh, cúc hoa, cẩu kỷ…; những loại thuốc này đều có tác dụng chống lão hóa.

Còn có vị thuốc được đặt tên theo tên của người tìm ra chúng, chẳng hạn như từ trường khanh. Sách “Bão phác tử” của tác giả Cát Hồng thời Đông Tấn viết rằng: “Vào thời cổ đại có vị lang y tên là Từ Trường Khanh thường dùng cây cỏ nhỏ nghiền thành bột để chữa các loại bệnh ôn dịch, người ta bèn gọi loại thảo dược này là từ trường khanh”.

Các vị thuốc Trung y như lưu ký nô, hà thủ ô, v.v… cũng được đặt tên theo cách này. Về hà thủ ô, tương truyền rằng vào thời cổ có một người tên là Hà Điền Nhi thân thể yếu ớt, râu tóc bạc sớm lại hiếm muộn.

6 3
Hà thủ ô. Ảnh internet.

Vào đêm nọ ông bỗng phát hiện ra có hai gốc cây leo mọc cách xa nhau mà cành lá ngả gần quấn lấy nhau, rất hiếu kỳ ông đào củ của nó đem về nấu uống, dần dà thấy thân thể trở nên khỏe mạnh, râu tóc trắng hóa đen, sống lâu hơn trăm tuổi, người ta bèn gọi loài cây này là hà thủ ô; còn lưu ký nô, loại thuốc này được Tống Vũ Đế Lưu Dụ tìm ra, người ta liền lấy tên thuở bé của ông là Ký Nô để đặt tên cho cây thuốc.

Có không ít tên thuốc được đặt ra là để ca tụng y thuật cao siêu của người thầy thuốc. Người ta kể rằng vào thời xưa ở Phan Châu có vị Quách Sử Quân chuyên dùng quả của một loại dây leo để chữa trị giun cho trẻ em, hiệu quả đặc biệt tốt. Về sau mọi người đặt tên cho giống thảo dược này là sử quân để tưởng nhớ lương y Quách Sử Quân.

Còn về khiên ngưu tử (hạt bìm bìm), chuyện kể rằng có vị thầy thuốc đã chữa khỏi cho một đứa bé, sau đó người nhà đứa bé dắt con trâu đến tạ ơn, vì vị thuốc này mọc hoang dại ngoài đồng, người ta không biết gọi nó là gì, bèn đặt tên là khiên ngưu tử (khiên ngưu là dắt trâu, tử là hạt cũng có nghĩa là đứa bé).

Những câu chuyện về tên thuốc được đặt ra nhằm tưởng nhớ y thuật, y đức của các bậc tiên hiền như thế qua ngàn năm vẫn còn lưu truyền, đến ngày nay chúng vẫn còn được truyền tụng.

Tài liệu tham khảo:

[1] Tác phẩm “Mạn đàm Trung y” của tác giả Ngọc Minh.

Tác giả: Dung Tử
[Trích từ Chánh Kiến Nét]

Khai Tâm sưu tầm
Theo vandieuhay

Gửi phản hồi