Câu Chuyện Cuộc ĐờiLịch Sử

Tại sao chỉ một họ tên nhỏ bé lại có thể làm lộ ra huyết thống của một người?

Tại sao chỉ một họ tên nhỏ bé lại có thể làm lộ ra huyết thống của một người?

Họ tên một người ẩn chứa điều gì? Ngày nay chúng ta quen coi họ (姓) và thị (氏) là một khối thống nhất, nhưng vào thời tiền Tần, “họ” và “thị” căn bản không phải là một chuyện.

Đầu tiên nói về “họ” (姓). Nó ra đời cách đây khoảng hơn 5000 năm từ xã hội thị tộc mẫu hệ. Chữ “họ” (姓) bản thân nó gồm chữ “nữ” (女) cộng với chữ “sinh” (生). Nói trắng ra là “đẻ ra theo họ mẹ”.

Trịnh Tiều trong “Thông chí – Thị tộc lược tự” có chép: “Nữ tạo ra họ, nên chữ họ thường có bộ nữ”. Câu nói này đã chỉ ra chính xác nguồn gốc của “họ”.

Vậy khi lật lại “Bát đại thượng cổ tính” cổ nhất Trung Hoa: Cơ (姬), Khương (姜), Diêu (姚), Doanh (嬴), Tự (姒), Vân (妘), Quy (媯), Cô (姑), tất cả một lượt đều mang bộ “nữ” (女). Khi đó tác dụng của “họ” rất đơn giản, chính là để phân biệt huyết thống. Đúng như “Tả truyện” có ghi chép: “Nam nữ đồng tính, kỳ sinh bất phồn” (男女同姓,其生不蕃), nam nữ cùng họ sinh con chẳng thể khoẻ mạnh, sinh sôi.

Người xưa từ sớm đã phát hiện ra hôn nhân cận huyết sẽ sinh ra những đứa trẻ không lành lặn. Cho nên “Họ” dùng để phân biệt hôn nhân, là chức năng cốt lõi của “Họ”. Ví dụ họ Cơ (姬) là họ của bộ lạc Hoàng Đế (黃帝), họ Khương (姜) là họ của bộ lạc Viêm Đế (炎帝). Người của hai họ này thông hôn với nhau là được phép, nhưng cùng họ với nhau thì tuyệt đối không. Đây là sắt luật thời bấy giờ.

Vậy còn “thị” (氏) là gì? Khi bánh xe xã hội tiến vào thị tộc phụ hệ, dân số ngày càng đông đúc hơn. Người cùng một họ không ngừng sinh sôi và dần tản ra nhiều nơi sinh sống khác nhau. Để phân biệt rõ hơn các nhóm tộc và cũng để phô trương địa vị, “thị” đã ra đời. Nói đơn giản, “họ” là đại tông (nhánh chính), “thị” là tiểu tông (nhánh phụ). “Họ” là bất biến, còn “thị” có thể thay đổi tuỳ theo tình hình.

Ví dụ Phục Hy thị, Toại Nhân thị, Thần Nông thị, đây đều là những “thị” thời kỳ đầu đại diện cho các bộ lạc khác nhau. Phục Hy thị dạy ngư dân kết lưới bắt cá. Toại Nhân thị phát minh ra cách dùi gỗ lấy lửa. Thần Nông thị nếm trăm loại cỏ dạy dân cày cấy. Trong cái tên của “Thị” ẩn chứa sở trường và công trạng của bộ lạc đó.

Đến thời Hạ (夏), Thương (商), Chu (周), “thị” hoàn toàn trở thành biểu tượng độc quyền của quý tộc. Chỉ những bậc đại quan quý hiển mới xứng đáng có được. Khi đó có một quy định gọi là “Nam giới xưng Thị, phụ nữ xưng Họ”.

Ví dụ Khuất Nguyên mà chúng ta đều biết, thực chất ông ấy không phải họ Khuất. Khuất là “Thị” của ông, còn họ thực sự của ông là Mị. Còn Thương Ưởng, “Thương” cũng là Thị của ông bắt nguồn từ vùng đất ông được phong (Thương ấp). Họ gốc của ông là Cơ (姬), là hậu duệ của công tộc nước Vệ.

Ở thời đại đó, bạn chỉ cần báo “thị” của mình ra, người ta liền biết gia thế bạn dày bao nhiêu, chức quan cao thế nào.

Tại sao chỉ một họ tên nhỏ bé lại có thể làm lộ ra huyết thống của một người?

Chế độ họ tộc phân chia đẳng cấp con người nghiêm ngặt này đã không tồn tại mãi mãi trên mảnh đất này. Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc, Chu thiên tử suy yếu, chư hầu tranh bá, chế độ tông pháp phong kiến truyền thống sụp đổ như toà nhà lớn. Quý tộc lũ lượt sa sút, bình dân bắt đầu trỗi dậy. Khi quý tộc cũ đã không còn giá trị nữa thì cái “thị” dùng để phô trương thân phận tự nhiên cũng mất đi hào quang thượng đẳng.

Từ thời Tây Hán ranh giới giữa Họ và Thị đã hoàn toàn mờ nhạt. “Chim én trước hiên nhà Vương, Tạ năm xưa nay bay vào nhà của dân thường”. Người bình dân cũng bắt đầu rầm rộ có được họ tên của riêng mình. Sự hoà nhập này không hề nhỏ chút nào. Nó trực tiếp gây ra cuộc “bùng nổ” họ tên tại Trung Quốc.

Mọi người bắt đầu “lấy tư liệu tại chỗ” để định họ cho mình. Có người lấy theo nghề nghiệp, ví dụ tổ tiên làm đồ gốm thì họ Đào, giết mổ lợn thì họ Đồ, làm thầy cúng thì họ Vu. Có những họ bắt nguồn từ vị trí địa lý, ví dụ như Đông Môn, Tây Môn, Quách, Khâu. Cũng có những họ bắt nguồn từ phong địa hoặc tên nước, ví dụ như Tề, Lỗ, Sở, Nguỵ. Đây đều là các nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sau khi mất nước, quý tộc và bách tính nước đó đã lấy tên nước làm họ.

Trong giai đoạn bùng nổ này, thậm chí còn ra đời nhiều họ kỳ lạ mà bạn không thể ngờ tới. Ví dụ có người họ “Tử” (cái chết). Đây thực chất là họ “Tử Ca Cốt” của tộc Tiên Ti được giản hoá trong quá trình Hán hoá thời Bắc Ngụy. Cũng có người họ “Cẩu” (cẩu thả/cỏ dại). Đa phần là vì vào thời Ngũ Đại Thập Quốc, để tránh phạm huý tên của hoàng đế Hậu Tấn là Thạch Kính Đường.

Những người vốn họ “Kính” buộc phải bỏ đi bộ Phản bên cạnh, đành chấp nhận đổi thành họ Cẩu để bảo toàn mạng sống. Thậm chí còn có cả người họ Niệu (nước tiểu). Điều này thường là do các gia tộc xưa đứng sai phe trong các cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc. Để thoát khỏi hoạ diệt tộc, họ cố ý đổi sang những từ hiếm gặp, thậm chí là thấp kém để che mắt thế gian, bảo toàn huyết mạch.

Chính nhờ những sự biến đổi phức tạp này, kho tàn họ tộc của Trung Quốc mới trở nên vô cùng đồ sộ. Theo ghi chép trong “Từ điển Họ tộc Trung Quốc”, có tới 24.000 họ của các dân tộc được ghi lại bằng chữ Hán từ cổ chí kim. Tuy nhiên, trải qua mấy nghìn năm đào thải khắc nghiệt, ngày nay chúng ta chỉ còn sử dụng khoảng hơn 6000 họ.

Điều này dẫn đến một hiện tượng rất thú vị: Tại sao bây giờ đi ra đường không gặp họ Vương thì cũng là họ Lý, không gặp họ Trương thì cũng là họ Lưu? Trong khi những đại tộc thượng cổ thuần chủng nhất lại ngày càng mờ nhạt?

Thực ra, các đại tộc thượng cổ trông có vẻ ít đi là vì chúng đã bị “phân rã”. Lấy họ “Cơ” (姬) của hoàng thất nhà Chu (周) làm ví dụ. Chu thiên tử phong đất cho con em cùng họ lập ra các nước chư hầu. Sau này khi những nước này diệt vong, con cháu của họ để tưởng nhớ cố quốc đã lấy luôn tên nước làm họ, đổi thành họ Ngô, Lỗ, Nguỵ, Trịnh. Vì vậy các đại tộc thượng cổ không hề biến mất, mà giống như một cái cây đại thụ phân hoá thành vô số cành lá, hoà mình vào gần một trăm dòng họ khác nhau.

Còn những dòng họ lớn mạnh về sau này đa số đều có vài đặc điểm chung. Một là nguồn gốc từ rất sớm, có ưu thế tích luỹ về thời gian. Hai là nắm bắt được thời cơ chính trị trong lịch sử. Ví dụ họ “Lưu” đã xuất hiện từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế, lại còn lập nên vương triều đại thống nhất dài nhất lịch sử Trung Quốc là nhà Hán với tư cách là quốc tính. Quý tộc họ Lưu sở hữu nhiều nguồn lực chính trị và kinh tế hơn. Cộng thêm việc các dân tộc thiểu số sau này đổi sang họ Hán, họ Lưu từ đó dần dần trỗi dậy.

Họ “Lý” bắt nguồn từ nhà Chu, đến thời nhà Đường trở thành quốc tính, dần dần cũng trở thành một trong những dòng họ đông dân nhất hiện nay. Sự lớn mạnh của họ “Vương” lại liên quan đến nguồn gốc của nó. Các bậc vương công quý tộc mất đi vương vị qua các triều đại. Hậu duệ của họ thường được người đời gọi là “Vương gia” (nhà Vương). Lâu dần liền lấy luôn chữ Vương làm họ.

Sự khuếch tán từ trên xuống dưới này cùng với sự gia tăng dân số theo cấp số nhân đã khiến họ Vương cuối cùng trở thành dòng họ lớn nhất hiện nay.

Nói đến đây, bạn có nhận ra một sự thật đáng mừng không. Ngày nay bất kể bạn mang họ gì, bất kể nguồn gốc của bạn cao quý hay thấp kém đều sẽ không bị kỳ thị. Nhưng hãy nhìn ra nước ngoài xem. Tại Nhật Bản, mãi đến năm 1875, bình dân mới bị bắt buộc phải có họ. Hiện nay vẫn có 40% người tìm việc bị kỳ thị vì họ tên. Tại châu Âu, các giai cấp do họ tên mang lại đến nay vẫn khó xoá bỏ. Ấn Độ lại càng như vậy. Thu nhập trung bình của người nhập cư đẳng cấp cao hơn đẳng cấp thấp tới 34%.

Nhưng trong lịch sử Trung Quốc lại có hai “con dao sắt bén” cực kỳ lợi hại đã trực tiếp cắt đứt ràng buộc họ tộc và đặc quyền.

Con dao thứ nhất gọi là chế độ khoa cử. Vào thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, Trung Quốc thực sự đã từng tồn tại sự phân biệt môn đệ. Thời đó tuyển quan dựa vào xuất thân. Những đại tộc như Thôi, Lư, Lý, Trịnh, chính là tấm vé vào quan trường. Nhưng chế độ khoa cử do nhà Tuỳ, Đường khởi xướng đã trực tiếp giáng một đòn chí mạng vào chế độ môn phiệt.

Triều đình tuyển chọn nhân tài, dựa vào những bài văn gấm vóc trên giấy thi chứ không phải dựa vào danh hiệu tổ tiên trên gia phả. Khi những người nghèo cũng có thể thay đổi vận mệnh, họ tộc sẽ không bao giờ còn là cái mác giai cấp để áp bức người khác nữa.

Và con dao thứ hai, gọi là Sự thay đổi triều đại. Lịch sử Trung Quốc cổ đại vô cùng dài đằng đẵng và đầy biến động, không có bất kỳ dòng họ nào có thể cười đến cuối cùng. Hôm nay có thể là hoàng thân quốc thích, ngày mai có thể đã là tàn dư của triều đại cũ. Cứ mỗi hai ba trăm năm lại “chia lại ván bài” một lần. Chẳng ai có quyền coi thường ai cả.

Họ tộc của người Trung Quốc trải qua hành trình từ “phân biệt hôn nhân” đến “minh định sang hèn” cho đến sau những năm tháng dài đằng đẵng phá bỏ rào cản giai cấp, cuối cùng đã quy về với giá trị nguyên bản, để lại một chức năng thuần khiết và ấm áp nhất: tìm về cội nguồn văn hoá.

Khi ta ngược dòng thời gian, đi đến tận cùng nguồn cội của gia phả, ta sẽ nhận ra rằng: tất cả các dòng họ cuối cùng đều hội tụ về các bộ lạc cổ xưa như Hoàng Đế, Viêm Đế. Hàng ngàn chữ Hán khác nhau này không phải là những bức tường dùng để phân chia đẳng cấp, mà là lời nhắc nhở không ngừng dành cho hậu thế rằng: trên mảnh đất rộng lớn bao la này, chúng ta đều cùng một cội nguồn.

Mỹ Mỹ biên tập

Xem thêm

Theo vandieuhay

Gửi phản hồi